Tiền gửi có kỳ hạn: nhận được bao nhiêu?

Gửi 500 triệu kỳ hạn 12 tháng ở 5,5%/năm thì cuối kỳ nhận 27.500.000 ₫ tiền lãi. Trong một kỳ, lãi chỉ tính trên tiền gốc; nó chỉ sinh thêm lãi khi bạn gửi tiếp cả gốc và lãi sang kỳ sau.

Hai cách tính: theo số tháng, hoặc theo ngày

Chọn một trong hai cách tính: theo số tháng của kỳ hạn, hoặc theo NGÀY — ngày gửi, ngày đáo hạn và ngày bạn cần tiền, để biết tiền có sẵn đúng lúc hay phải rút trước hạn.

Điều đắt nhất của tiền gửi có kỳ hạn thường không nằm ở lãi suất mà ở điều khoản rút trước hạn: phần kỳ hạn đang dở được tính theo một mức thấp hơn nhiều, áp cho TOÀN BỘ thời gian của kỳ đó. Mức đó là con số của hợp đồng bạn ký — hãy tra biểu lãi suất và nhập đúng.

Mất bao nhiêu, và cách tránh phải rút trước hạn

Những kỳ đã đến hạn thì đã chốt lãi theo kỳ hạn nên phần đó không mất. Ví dụ điền sẵn của công cụ: 500 triệu gửi 12 tháng ở 5,5% mà rút ở tháng thứ 9, với mức 0,2%/năm bạn nhập, cho 750.000 ₫ thay vì 20.625.000 ₫ — chênh 19.875.000 ₫. Nếu chưa chắc ngày cần tiền, hãy dùng chế độ theo ngày ở dưới trước khi chọn kỳ hạn.

Bạn cần tính gì?

Chế độ theo kỳ hạn tính lãi theo số tháng chia 12 — gọn để so sản phẩm. Chế độ theo ngày đếm số ngày thực tế chia 365 và đặt ngày cần tiền cạnh ngày đáo hạn; hai cách cho con số hơi khác nhau, và trang luôn ghi rõ con số nào thuộc cách nào.

Khoản gửi

Số tiền gốc bạn gửi vào.

Lãi suất niêm yết cho kỳ hạn bạn chọn. Lãi suất trả lãi hằng tháng thường thấp hơn lãi cuối kỳ — hãy nhập đúng mức của sản phẩm bạn chọn.

Số tháng của một kỳ hạn: 1, 3, 6, 12, 24 là các mức phổ biến.

Chọn thời điểm ngân hàng trả lãi. Cùng một kỳ hạn thì tổng lãi như nhau; chỉ khác lúc bạn nhận được tiền.

Tái tục

Để 1 nếu chỉ gửi một kỳ rồi rút. Nhập 3 nếu bạn định tái tục ba lần kỳ hạn 12 tháng.

Khi tái tục thì làm gì với lãi?

Chỉ có ý nghĩa khi nhận lãi cuối kỳ. Nếu bạn đã nhận lãi hằng tháng thì không còn lãi nào để nhập vào gốc.

Nếu phải rút trước hạn

Mức lãi hợp đồng của bạn áp cho phần rút trước hạn. Mức 0,2 điền sẵn chỉ là ví dụ để bạn thay — con số thật phụ thuộc biểu lãi suất của ngân hàng bạn gửi tại thời điểm rút, nên hãy tra và nhập đúng mức đó.

Để trống nếu bạn không cần xem phần này. Phải nhỏ hơn hoặc bằng tổng số tháng gửi. Rút đúng ngày đến hạn của một kỳ thì không bị áp lãi không kỳ hạn.

Kết quả tự cập nhật ngay khi bạn thay đổi số — nút này chỉ đưa bạn tới kết quả.

Kết quả

Tổng gốc và lãi nếu giữ đến hết kế hoạch527.500.000 ₫
Tổng số tháng gửi12 tháng
Tổng lãi27.500.000 ₫
Lãi suất thực theo năm5,500%

Nếu rút trước hạn

Lãi thực nhận750.000 ₫
Lãi đáng ra được nếu tính theo kỳ hạn20.625.000 ₫
Thiệt hại do rút trước hạn19.875.000 ₫

Chế độ theo kỳ hạn dùng số tháng chia 12 nên nhanh và gọn, nhưng nó là số gần đúng: cùng “6 tháng”, gửi từ 31/1/2026 là 181 ngày còn năm nhuận 2028 là 182 ngày. Khi cần đối chiếu với một ngày cụ thể, hãy dùng chế độ theo ngày.

Tiền có sẵn khi bạn cần không?

Đang xem trên số ví dụ mẫu, chưa phải số của bạn.

Hình minh họa 3D một hũ thủy tinh đựng vài đồng xu, một cuốn sổ màu xanh mở ra với trang trống, một cuốn lịch để bàn trống và một cây bút.
Theo kỳ hạn (mỗi tháng tính là 1/12 năm)
  1. Gửi tiềnTháng 0
  2. Rút tiềnTháng 9
  3. Đáo hạn kỳ 1 · Hết kế hoạchTháng 12

Rút ở tháng 9, khi một kỳ đang chạy: kỳ đó chỉ được tính lãi không kỳ hạn bạn nhập.

Phương án khác, nếu KHÔNG rút mà giữ đủ cả kế hoạch (đến tháng 12): gốc và lãi được hưởng là 527.500.000 ₫

Tiền gốc
500.000.000 ₫
Lãi
27.500.000 ₫
  • Lãi được hưởng nếu rút ở tháng 9: 750.000 ₫.
  • Cùng số tháng mà tính theo lãi kỳ hạn: 20.625.000 ₫.
  • Lãi ít hơn khoảng 19.875.000 ₫ vì rút trước hạn.
Chưa có lần thử nào để hoàn tác.

Lãi suất là con số bạn nhập, không phải báo giá hay dự báo. Công cụ không mô phỏng cách làm tròn, ngày nghỉ hay rút một phần của từng hợp đồng.

Làm gì tiếp

Kỳ hạn và ngày cần tiền là hai mốc khác nhau. Khi đã biết chúng lệch nhau bao nhiêu, hai việc nên làm kế tiếp:

Không có con số nào được mang sang công cụ khác — bạn sẽ nhập lại.

Bước tiếp theo

Cần tiền trước ngày đáo hạn: mất bao nhiêu tiền lãi?(mở trong tab mới) — Bài đọc cùng ví dụ điền sẵn: giữ đủ kỳ, rút ở tháng 9 và rút đúng ngày đáo hạn khác nhau thế nào.

Giữ lại kết quả này

Trang này không lưu kết quả và không gửi số của bạn đi đâu. Hãy chụp màn hình hoặc ghi lại các con số quan trọng trước khi rời trang. Mở lại công cụ và nhập lại là cách duy nhất để xem lại kết quả.

Chi tiết

Lãi mỗi lần nhận, kỳ đầu27.500.000 ₫
Số lần nhận lãi1 lần
Gốc ở kỳ cuối500.000.000 ₫
Có nhập lãi vào gốcCó

Cách tính

Lãi trong một kỳ hạn = gốc × lãi suất năm × số tháng ÷ 12. Đây là lãi ĐƠN, chia theo số tháng, không phải lãi kép. Kỳ hạn 6 tháng ở mức 5,5%/năm cho 2,75% số gốc; kỳ hạn 12 tháng cho đúng 5,5%.

Cách nhận lãi không đổi tổng lãi của một kỳ hạn, chỉ đổi thời điểm nhận. Lãi mỗi lần nhận = gốc × lãi suất năm × số tháng mỗi lần ÷ 12. Ngân hàng thường niêm yết lãi suất trả lãi hằng tháng thấp hơn lãi cuối kỳ một chút — đó là mức lãi suất khác, nên hãy nhập đúng mức của sản phẩm bạn chọn.

Ghép lãi chỉ xảy ra ở thời điểm tái tục, và chỉ khi bạn nhập lãi vào gốc. Ba kỳ hạn 12 tháng liên tiếp có nhập lãi vào gốc cho 500.000.000 × 1,055³ = 587.120.687,50 ₫; rút lãi mỗi kỳ chỉ cho 582.500.000 ₫ — chênh 4.620.687,50 ₫.

Lãi suất thực theo năm là mức lãi kép hằng năm tương đương với kết quả cuối cùng. Nó bằng đúng lãi suất niêm yết với một kỳ hạn 12 tháng, cao hơn khi bạn tái tục có nhập lãi, và THẤP HƠN khi bạn gửi một kỳ hạn dài hơn 12 tháng — vì lãi đơn trong kỳ hạn 24 tháng kém hơn ghép lãi hai lần 12 tháng.

Phần rút trước hạn tính lãi thực nhận = lãi của các kỳ đã đến hạn (theo lãi suất kỳ hạn, có ghép lãi nếu bạn nhập lãi vào gốc) + gốc đang chạy ở kỳ dở × lãi suất bạn nhập cho trường hợp rút trước hạn × số tháng đã gửi trong kỳ đó ÷ 12, rồi đặt cạnh mức lãi mà kỳ hạn đáng ra mang lại trong cùng số tháng đó. Chênh lệch giữa hai con số là phần mất đi vì lãi suất, trên cùng khoảng thời gian. Rút đúng ngày đến hạn của một kỳ thì không mất gì. Ví dụ ba kỳ 12 tháng có nhập lãi mà rút ở tháng thứ 30: nhận 57.069.013 ₫, chênh 14.747.581 ₫ — chỉ là phần của kỳ thứ ba, không phải của cả 30 tháng.

Chế độ theo NGÀY tính lãi = số dư × lãi suất năm × số ngày thực tế ÷ 365, cộng dồn theo từng kỳ hạn, và đặt ngày bạn cần tiền cạnh ngày đáo hạn. Gửi 500 triệu ngày 31/1/2026, kỳ hạn 6 tháng ở 6%/năm thì đáo hạn 31/7/2026 — đúng 181 ngày, lãi 14.876.712 ₫. Cùng kỳ hạn đó bắt đầu 31/1/2028 lại là 182 ngày vì năm nhuận, lãi 14.958.904 ₫. Chế độ theo tháng cho 15.000.000 ₫ cho cả hai; đó là chỗ hai cách tính khác nhau.

Khi ngày cần tiền đến trước ngày đáo hạn, công cụ tách khoảng cách thành HAI phần chứ không gộp thành một con số “thiệt hại”. Cần tiền ngày 30/4/2026 là 89 ngày: với mức 0,2%/năm bạn nhập, thực nhận 243.836 ₫; cùng 89 ngày đó theo lãi kỳ hạn là 7.315.068 ₫, nên phần mất vì lãi suất là 7.071.233 ₫. Phần còn lại tới đáo hạn — 7.561.644 ₫ — là lãi của 92 ngày CHƯA gửi, tức thời gian bạn chưa có, không phải tiền bị trừ. Cộng hai phần mới ra 14.632.877 ₫; gọi cả con số đó là tiền phạt là nói quá đúng bằng phần thứ hai.

Nếu tái tục, kỳ sau mở bằng gốc CỘNG lãi kỳ trước và tính từ ngày đáo hạn thực tế của kỳ trước. Với ví dụ trên, kỳ hai mở ngày 31/7/2026 với 514.876.712 ₫; cần tiền ngày 31/10/2026 là 92 ngày vào kỳ hai, cho 259.554 ₫ lãi mới và tổng lãi qua mốc đó là 15.136.267 ₫. Lãi của kỳ đã đến hạn không mất và cũng không được tính hai lần: nó đã nằm trong phần gốc nhận lại. Nếu không tái tục, mô hình coi tiền đã nhận về ở ngày đáo hạn và không sinh lãi thêm — công cụ không vừa cộng lãi kỳ hạn sau đáo hạn vừa nói tiền luôn sẵn sàng.

Câu hỏi thường gặp

Nguồn cho cách tính lãi theo ngày

Công thức chia 365 mà công cụ dùng lấy từ văn bản dưới đây. Bản toàn văn được đọc ngày 16/09/2026 trên Thư viện Pháp luật — một cơ sở dữ liệu pháp luật thương mại đăng lại toàn văn, KHÔNG phải bản Công báo. Nêu rõ vì đó là mức tin cậy thấp hơn: đủ để bạn tự đọc điều khoản và đối chiếu với công thức của công cụ, chưa đủ để trang này khẳng định nghĩa vụ của một bên nào. Đây không phải tư vấn và không phải danh sách đầy đủ. Hợp đồng bạn ký là căn cứ đúng hơn con số ở đây.

  • Thông tư 14/2017/TT-NHNN — quy định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụngNguồn của mốc 365 ngày: khoản 1 Điều 4 ghi “một năm là ba trăm sáu mươi lăm ngày”. Nguồn của công thức: khoản 1 Điều 5 — số tiền lãi ngày = số dư thực tế × lãi suất tính lãi ÷ 365, và dạng rút gọn cộng dồn theo số ngày duy trì số dư. Đáng đọc nhất với bạn là khoản 2 Điều 4: nó cho phép hai cách đếm ngày (bỏ ngày đầu tính ngày cuối, hoặc tính ngày đầu bỏ ngày cuối), nên hợp đồng có thể lệch một ngày so với công cụ; và khoản 4 Điều 4 cùng điểm a(ii) khoản 2 Điều 5 cho phép thỏa thuận phương pháp khác, miễn là ngân hàng ghi rõ mức lãi suất năm tương ứng theo cách tính ở khoản 1 Điều 5.

Công cụ này chỉ mang tính minh họa: kết quả phụ thuộc vào những con số bạn nhập và cả các giả định được ghi trên trang này. Mỗi công cụ có phạm vi riêng — lãi suất, thuế, phí và lạm phát được tính hay không tính là điều nêu ngay tại phần giả định và giới hạn của trang, nên hãy đọc phần đó trước khi dùng con số vào việc gì. Kết quả không phải cam kết lợi nhuận và không phải lời khuyên đầu tư. Vui lòng cân nhắc kỹ hoặc tham khảo chuyên gia trước khi ra quyết định tài chính.