
Vay 1 tỷ đồng mua nhà, trả đều trong 20 năm với lãi 11%/năm (giữ cố định), mỗi tháng bạn trả khoảng 10,3 triệu đồng. Lãi 9% thì khoảng 9 triệu, lãi 13% thì khoảng 11,7 triệu. Ba thứ quyết định khoản trả hằng tháng: lãi suất, kỳ hạn và cách trả. Bài này cho bạn thấy mỗi thứ làm số đó nhúc nhích bao nhiêu, và điều gì xảy ra khi hết ưu đãi, để bạn đọc báo giá của ngân hàng mà không bị bất ngờ.
Mức lãi 11% lấy từ đâu?
Theo bài của Nhà Đầu Tư ngày 28/08/2026 dẫn khảo sát của DKRA Consulting, tháng 8/2026 lãi suất vay mua nhà cố định 12–24 tháng tại 11 ngân hàng phổ biến ở mức khoảng 10,9%/năm. Cũng theo bài đó, khảo sát quý II/2026 của VARS-IRE ghi nhận lãi ưu đãi phổ biến 8,5–11%/năm, thường chỉ áp dụng 6–12 tháng; sau đó lãi tính theo lãi cơ sở cộng biên độ khoảng 3,3–3,5%, đưa mức thực trả lên khoảng 13–15%/năm. (Nhà Đầu Tư, 28/08/2026)
Đây là số khảo sát từ tháng 8 trở về trước, không phải báo giá hôm nay của ngân hàng nào. Lãi thật của bạn nằm trong thư báo giá hoặc hợp đồng. Các mức 9%, 11% và 13% dưới đây là mức để bạn thấy độ nhạy.
Ba thứ quyết định khoản trả mỗi tháng
- Lãi suất: phần trăm một năm bạn trả cho số tiền còn nợ. Bài dùng lãi suất danh nghĩa, tức mức ghi trên báo giá, chia đều cho 12 tháng.
- Kỳ hạn: số năm trả hết nợ. Càng dài thì mỗi tháng nhẹ hơn, nhưng bạn trả lãi lâu hơn.
- Cách trả: trả góp đều là mỗi tháng trả một khoản bằng nhau; trả gốc đều là mỗi tháng trả một phần gốc (số tiền đã vay) cố định, cộng lãi trên số còn nợ, nên khoản đầu cao và giảm dần.
Mọi con số dưới đây tính cho khoản vay 1.000.000.000 đồng, chưa gồm phí bảo hiểm, phí trả nợ trước hạn hay các chi phí kèm theo.
Cùng 20 năm, lãi suất khác nhau thì trả bao nhiêu?
- Lãi 9%/năm: mỗi tháng trả 8.997.260 đ, tổng lãi cả 20 năm 1.159.342.294 đ.
- Lãi 11%/năm: mỗi tháng trả 10.321.884 đ, tổng lãi cả 20 năm 1.477.252.142 đ.
- Lãi 13%/năm: mỗi tháng trả 11.715.757 đ, tổng lãi cả 20 năm 1.811.781.707 đ.
Từ 9% lên 13%, mỗi tháng bạn trả thêm khoảng 2,7 triệu đồng, và tổng lãi cả kỳ hạn tăng khoảng 652 triệu đồng. Vài điểm phần trăm nghe nhỏ, nhưng nhân với 240 tháng thì thành số lớn.
Hết ưu đãi thì khoản trả đổi thế nào?
Các con số ở trên giả định lãi không đổi. Thực tế lãi ưu đãi chỉ kéo dài vài tháng đến một hai năm, rồi chuyển sang lãi suất điều chỉnh theo kỳ. Ví dụ minh họa: vay 1 tỷ, 20 năm, lãi 11% trong 12 tháng đầu, sau đó lãi thành 14% (giữa khoảng 13–15% nói ở trên) cho 228 tháng còn lại.
- 12 tháng đầu: 10.321.884 đ mỗi tháng.
- Sau 12 tháng, số gốc còn nợ khoảng 985.416.684 đ.
- Từ tháng thứ 13: khoản trả thành 12.375.612 đ, tăng khoảng 2,05 triệu đồng mỗi tháng, tương đương tăng khoảng 19,9%, hay hơn 24 triệu đồng mỗi năm.
Điều đáng làm là hỏi ngân hàng: ưu đãi kéo dài bao lâu, sau đó lãi tính theo cách nào (lãi cơ sở cộng biên độ bao nhiêu), và tính thử khoản trả ở mức lãi sau ưu đãi trước khi ký. Công cụ lãi suất điều chỉnh theo kỳ cho thấy số tiền trả thay đổi thế nào mỗi khi lãi suất đổi.
Kéo dài kỳ hạn: tháng nhẹ hơn, lãi nhiều hơn
Giữ lãi 11%/năm, chỉ đổi kỳ hạn:
- 15 năm: mỗi tháng trả 11.365.969 đ, tổng lãi 1.045.874.482 đ.
- 20 năm: mỗi tháng trả 10.321.884 đ, tổng lãi 1.477.252.142 đ.
- 25 năm: mỗi tháng trả 9.801.131 đ, tổng lãi 1.940.339.231 đ.
Từ 15 lên 25 năm, mỗi tháng nhẹ đi khoảng 1,56 triệu đồng, nhưng tổng lãi tăng khoảng 894 triệu đồng. Kỳ hạn dài giúp dễ thở hơn mỗi tháng; cái giá là bạn nợ lâu hơn và trả nhiều lãi hơn. Chọn bên nào phụ thuộc vào việc bạn đang cần dòng tiền hằng tháng thoải mái hay muốn trả hết nợ sớm.
Trả góp đều hay trả gốc đều?
Với 1 tỷ, 20 năm, lãi 11%/năm:
- Trả góp đều: 10.321.884 đ mỗi tháng, tổng lãi khoảng 1,48 tỷ đồng.
- Trả gốc đều: tháng đầu 13.333.333 đ, tháng cuối 4.204.861 đ, tổng lãi khoảng 1,10 tỷ đồng.
Trả gốc đều tốn ít lãi hơn khoảng 373 triệu đồng, nhưng tháng đầu cao hơn khoảng 3 triệu. Câu hỏi để tự hỏi: ở những năm đầu, khi bạn vừa mua nhà và còn nhiều khoản phải lo, bạn có trả nổi khoản cao nhất này không?
Thử với số của bạn
Mở công cụ Tính khoản vay mua nhà, nhập số tiền, lãi suất và kỳ hạn trong báo giá của bạn. Công cụ cho khoản trả hằng tháng, tổng lãi và bảng trả nợ từng năm, và cho chọn trả góp đều hoặc trả gốc đều.
Thử một lần có ích: nhập lãi ưu đãi của bạn, rồi nhập lại với lãi sau ưu đãi. Khoản trả mỗi tháng chênh bao nhiêu, và số đó có còn nằm trong ngân sách gia đình không?
Khi đã có khoản trả mỗi tháng, bước tiếp theo là xem nó nằm ở đâu trong ngân sách gia đình. Công cụ Khả năng mua nhà cho tầm giá để bắt đầu đi xem nhà, tính từ thu nhập và chi phí hằng tháng của bạn. Nếu có hai báo giá trong tay, So sánh khoản vay đặt chúng cạnh nhau tại cùng một mốc.
Cách tính: công thức trả góp đều với lãi danh nghĩa chia cho 12 tháng, lãi cố định trong từng giai đoạn. Các số lấy từ công cụ Tính khoản vay mua nhà của FinHome (chạy ngày 30/10/2026) và được tính lại bằng công thức riêng; riêng ví dụ hết ưu đãi tính bằng cùng công thức hai giai đoạn, chưa chạy trên công cụ Lãi suất điều chỉnh theo kỳ. Mức lãi tham chiếu lấy từ khảo sát DKRA và VARS-IRE như đã nêu. Bài được soạn với hỗ trợ AI, chưa được chuyên gia độc lập thẩm định.
Số liệu minh họa.


